logo-dich-vu-luattq

Luật sở hữu trí tuệ ra đời năm nào

Luật Sở hữu Trí tuệ chính thức đưa vào áp dụng vào năm 2005 và được điều chỉnh, bổ sung thêm các quy định mới vào năm 2009 và năm 2019. Sự ra đời của Luật này được nhận định là bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển của Hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo quyền lợi của tác giả sở hữu và đưa ra các quy định xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm.

Sở hữu Trí tuệ là gì?

Sở hữu Trí tuệ là những sản phẩm được sáng tạo từ bộ óc của con người, có thể là: tác phẩm văn học, âm nhạc, sáng chế, phát minh, kiểu dáng công nghiệp, giải pháp hữu ích, phần mềm máy tính.

Xem thêm: Luật sở hữu trí tuệ ra đời năm nào

Luật Sở hữu Trí tuệ là gì?

Luật Sở hữu Trí tuệ là tập hợp các quy phạm pháp luật, có nhiệm vụ điều chỉnh và bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng.

Những Thay đổi trong Luật Sở hữu Trí tuệ được Sửa đổi & Áp dụng từ ngày 01/11/2019

Quốc hội nước ta đã đưa ra những điều chỉnh mới trong Luật Sở hữu Trí tuệ sửa đổi 2019, có hiệu lực từ 01/11/2019, bao gồm:

Thay đổi về cách tính thời gian sử dụng nhãn hiệu

Việc sử dụng nhãn hiệu bởi bên nhận chuyển quyền theo hợp đồng cũng được xem là hành vi sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu, và do đó sẽ không tính vào khoảng thời gian mà chủ sở hữu không liên tục sử dụng nhãn hiệu (theo Điều 2.8 Luật sửa đổi Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu Trí tuệ 2019).

Thay đổi tiêu chí xác lập quyền sở hữu công nghiệp với chỉ dẫn địa lý

Không còn được xác lập quyền sở hữu công nghiệp với chỉ dẫn địa lý trên cơ sở công nhận đăng ký quốc tế.

Những Loại hình Tác phẩm nào được Bảo hộ Quyền Tác giả?

Theo Điều 14 Luật Sở hữu Trí tuệ sửa đổi 2019 về các loại hình tác phẩm được bảo hộ bao gồm:

  • Tác phẩm khoa học, văn học, giáo trình, sách giáo khoa và các tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết, ký tự khác. Tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự khác là tác phẩm thể hiện bằng ký hiệu tốc ký, chữ nổi cho người khiếm thị và các ký hiệu tương tự khác;
  • Bài phát biểu, bài giảng và các bài nói khác được thể hiện bằng lời nói, xuất hiện dưới dạng bản ghi âm, ghi hình;
  • Tác phẩm báo chí bao gồm các thể loại: Phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác;
  • Tác phẩm âm nhạc được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn;
  • Tác phẩm sân khấu như: chèo, tuồng, cải lương, múa rối, kịch nói, kịch dân ca, kịch hình thể, nhạc kịch, xiếc, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác;
  • Tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm được tạo ra dưới hình thức tương tự là tác phẩm được thể hiện bằng hình ảnh động kết hợp hoặc không kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác;
  • Tác phẩm tạo hình là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục như: hội họa, đồ họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện tương tự, tồn tại dưới dạng độc bản;
  • Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp như: thiết kế đồ họa (hình thức thể hiện của biểu trưng, hệ thống nhận diện và bao bì sản phẩm), thiết kế thời trang, tạo dáng sản phẩm, thiết kế nội thất, trang trí;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh được thể hiện dưới hình ảnh khách quan trên các vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra, hay có thể được tạo ra bằng các phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác;
  • Tác phẩm kiến trúc gồm bản vẽ thiết kế kiến trúc về công trình hoặc tổ hợp các công trình, nội thất, phong cảnh, công trình kiến trúc;
  • Tác phẩm văn học và nghệ thuật dân gian, bao gồm: truyện, thơ, câu đố, điệu hát, làn điệu âm nhạc, điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi;
  • Sưu tập dữ liệu và chương trình máy tính;
  • Tác phẩm phái sinh được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

Giải đáp những Câu hỏi về Luật Sở hữu Trí tuệ Sửa đổi 2019

Biểu diễn những bài hát mà không biết tác giả tại các quán cà phê có được phép hay không?

Tham khảo thêm: Xâm phạm sở hữu trí tuệ

Đầu tiên, cần xác định bài hát một cá nhân, tổ chức đã sử dụng có thuộc quyền sở hữu của tác giả nào hay không. Việc xác định quyền tác giả theo Luật Sở hữu Trí tuệ sẽ dẫn đến 02 trường hợp sau:

Thứ nhất: Căn cứ vào Điều 20.3 Luật Sở hữu Trí tuệ sửa đổi 2019, nếu xác định được chủ sở hữu của bài hát này và đã công bố, thì khi một cá nhân hoặc tổ chức sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền được quy định tại Điều 19.3, người đó bắt buộc phải xin phép và trả tiền thù lao, nhuận bút hoặc các quyền lợi vật chất khác cho tác giả sở hữu.

Căn cứ theo Điều 25.1.(e) Luật Sở hữu Trí tuệ sửa đổi 2019, nếu không xin phép hoặc trả thù lao, nhuận bút cho tác giả thì buổi biểu diễn của cá nhân, tổ chức không được thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào.

Thứ hai: Theo quy định Điều 42.1.(a) Luật Sở hữu Trí tuệ sửa đổi 2019, nếu không xác định được tác giả sở hữu bài hát thì đây được xem là tác phẩm khuyết danh, và chủ sở hữu quyền tác giả đối với sản phẩm đó là Nhà nước. Trong trường hợp này, không tồn tại quy định nào bắt buộc chủ thể biểu diễn bài hát phải trả tiền.

Bên đặt hàng có quyền được đứng tên trên tác phẩm được sáng tác theo đơn đặt hàng không?

Nếu hai bên thỏa thuận và ký kết hợp đồng theo hình thức đặt hàng theo quy định của pháp luật thì bên đặt hàng được xem là chủ sở hữu của tác phẩm đó.

Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận sở hữu cuối cùng thì bên đặt hàng sẽ được sở hữu các quyền sau:

  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Công bố tác phẩm; cho phép người khác công bố tác phẩm;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Phân phối hoặc nhập khẩu bản gốc, bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng trên mạng thông tin điện tử, phương tiện hữu tuyến hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc, bản sao chương trình máy tính hoặc tác phẩm điện ảnh.

Mặc dù hai bên đã thỏa thuận các quyền chuyển giao, tuy nhiên tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân (trong đó có quyền đứng tên thật, bút danh trên tác phẩm hoặc được nêu tên thật, bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng) đã quy định trong Luật Sở hữu Trí tuệ; ngoại trừ quyền công bố tác phẩm. Do đó, dù đã đặt hàng tác giả để sáng tác tác phẩm thì hai bên không thể thỏa thuận việc chuyển giao quyền đứng tên tác giả trên tác phẩm.

Đọc thêm: Luật sở hữu trí tuệ mới nhất 2018

Tóm lại, trong trường hợp này nếu bên đặt hàng cố ý đứng tên tác giả để tham gia cuộc thi sẽ bị ghép vào tội xâm phạm đến quyền nhân thân của tác giả sở hữu và vi phạm pháp luật về Sở hữu Trí tuệ.

Những trường hợp nào không phải trả tiền nhuận bút khi sử dụng tác phẩm người khác?

Căn cứ vào Điều 25.1 Luật Sở hữu Trí tuệ sửa đổi 2019, những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố mà không cần xin phép hoặc trả nhuận bút, thù lao bao gồm:

  • Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
  • Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;
  • Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
  • Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
  • Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;
  • Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
  • Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
  • Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
  • Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị; và
  • Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

Thời gian đăng ký logo ở cục Sở hữu Trí tuệ bao lâu?

Thời gian đăng ký logo được quy định khoảng 12 tháng, gồm 03 giai đoạn thẩm định chính:

Giai đoạn 1: Thẩm định hình thức, trong thời hạn 01 tháng;

Giai đoạn 2: Đăng công báo, trong thời hạn 02 tháng;

Giai đoạn 3: Thẩm định nội dung, trong thời hạn 09 tháng.

Tuy nhiên, vì số lượng đơn thẩm định tại Cục hiện nay rất nhiều, nên thời gian đăng ký logo sẽ kéo dài thời gian hơn so với quy định chung, có thể mất khoảng 20-26 tháng kể từ ngày người đăng ký nộp đơn tại Cục Sở hữu Trí tuệ, sau đó sẽ thông báo cho biết logo có được đăng ký thành công hay không.

Bài viết này chứa đựng kiến thức pháp luật và thuật ngữ chuyên môn, quý độc giả có thắc mắc hoặc cần trao đổi về chuyên môn liên quan đến Luật Sở hữu trí tuệ, vui lòng liên hệ các Luật sư Sở hữu trí tuệ của chúng tôi tại info@letranlaw.com.

Tìm hiểu thêm: Nghị định 99 sở hữu trí tuệ

quantri

quantri

Bài viết mới

Nhận tin mới nhất từ chúng tôi !