logo-dich-vu-luattq

Chia tài sản chung của vợ chồng

Trả Lời:

Khi cá nhân không tự mình thực hiện được giao dịch dân sự có thể ủy quyền cho cá nhân khác.

Xem thêm: Chia tài sản chung của vợ chồng

>&gt Xem thêm: Cách chia tài sản sau ly hôn theo quy định mới nhất năm 2022 ?

Điều 138. Đại diện theo ủy quyền

1. Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2. Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.

3. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

Theo đó, vợ bạn có thể ủy quyền cho bạn thực hiện hợp đồng chuyển nhượng.Theo đó, hồ sơ công chứng bao gồm:

1. Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của bên mua ( cả vợ và chồng nếu bên mua là hai vợ chồng)

2. Sổ hộ khẩu của bên mua (cả vợ và chồng)

3. Giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân của bên mua ( Đăng ký kết hôn )

4. Phiếu yêu cầu công chứng + tờ khai

5. Hợp đồng uỷ quyền mua ( Nếu có ).

Đọc thêm: Phụ nữ ly hôn: Nếu thích đi một mình, hãy một mình

Tham khảo thêm: Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

=> Theo quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

>&gt Xem thêm: Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản năm 2022 ?

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Như vậy, nếu bạn chứng minh được số tiền dùng để mua tài sản này là số tiền riêng hoặc là lợi tức phát sinh từ tài sản riêng thì khi đăng ký sở hữu thì chỉ đăng ký tên bạn trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở xác lập quyền sở hữu riêng.

Đọc thêm: Phụ nữ ly hôn: Nếu thích đi một mình, hãy một mình

Tham khảo thêm: Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

=> Trước hết, bạn cần xác định rõ tài sản là nhà và đất thuộc sở hữu của cha mẹ hay của hộ gia đình. Nếu là tài sản của cha mẹ bạn thì chỉ có cha mẹ mới có quyền định đoạt với tài sản này. Nếu là tài sản chung của hộ gia đình thì quyền định đoạt của các thành viên được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Điều 109. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình

1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.”

Như vậy, nếu bạn đủ mười lăm tuổi trở lên thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của bạn. Trong trường hợp này bạn có thể ủy quyền cho cá nhân khác để thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung của hộ gia đình.

Đọc thêm: Phụ nữ ly hôn: Nếu thích đi một mình, hãy một mình

Tham khảo thêm: Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

=> Cần xác định số tài sản trên có phải là di sản thừa kế hay không căn cứ quy định sau:

>&gt Xem thêm: Quy định mới về phân chia tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất, nhà ở ?

Điều 634. Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”

Theo đó, nếu toàn bộ số tài sản trên là di sản thừa kế mà người chết không để lại di chúc thì sẽ thực hiện phân chia như sau:

Điều 685. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.”

Những người được hưởng di sản được quy định như sau:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Đọc thêm: Tiền tạm ứng án phí ly hôn là bao nhiêu? Do ai nộp?

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

>&gt Xem thêm: Tài sản là gì ? Cho ví dụ về tài sản ? Nước, không khí, phần mềm có phải là tài sản hay không ?

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Đọc thêm: Phụ nữ ly hôn: Nếu thích đi một mình, hãy một mình

Tham khảo thêm: Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

=> Tại Điểm a Mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 về việc thi hành Luật hôn nhân gia đình quy định:

“Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”

Như vậy, tài sản nêu trên là tài sản Ông B và bà N được tặng cho chung. Pháp luật thời kỳ đó chưa có quy định bắt buộc phải đăng ký tên của đồng sở hữu trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì vậy, việc bà N đứng tên trong giấy chứng nhận không là căn cứ duy nhất xác nhận đây là tài sản riêng của bà N.

Tại khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của luật này được thực hiện như sau:

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 1/1/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông B và bà N không được công nhận. Tương tự, quan hệ hôn nhân giữa ông B và bà L cũng không được công nhận.

Anh Ng là con đẻ của Ông B, Chị C là con nuôi của ông B. Khi Bà N mất, tài sản là quyền sử dụng đất do bà N đứng tên là tài sản chung với Ông B. Vì vậy, 1/2 di sản này được chia cho các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N là chị C. Như vậy, 1/2 quyền sử dụng đất được chia thừa kế cho chị C. 1/2 còn lại được xác định là di sản thừa kế của ông B. Theo quy định tại điều 676 Bộ luật dân sự 2005 thì chị C và anh Ng được hưởng di sản thừa kế này. Việc phân chia di sản thừa kế được thực hiện như sau:

>&gt Xem thêm: Mẫu đơn ly hôn thuận tình, quyền nuôi con và chia tài sản năm 2022

Điều 685. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.”

bà L và ông B cùng tạo dựng tài sản trên đất nhưng tài sản được đăng ký sở hữu mang tên bà N. Như vậy, trong trường hợp bà N chưa đăng ký biến động với tài sản trên và bà L chứng minh được sự đóng góp tạo dựng tài sản này thì hoàn toàn có quyền yêu cầu được xác định phần tài sản đã đóng góp để yêu cầu phân chia.

Đọc thêm: Phụ nữ ly hôn: Nếu thích đi một mình, hãy một mình

Tham khảo thêm: Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

=> Sổ đỏ được cấp mang tên bố và mẹ chồng chị. Như vậy, tài sản này được xác định là tài sản chung của bố mẹ. Mẹ chồng bạn có quyền sở hữu 1/2 tài sản là quyền sử dụng đất nêu trên. Khi mẹ mất, 1/2 di sản này được xác định là di sản thừa kế. Theo đó, nếu mẹ chồng bạn không để lại di chúc thì di sản này được phân chia theo quy định pháp luật tại điều 685 Bộ luật dân sự nêu trên. Bố bạn không có quyền định đoạt với toàn bộ tài sản trên. Tuy nhiên, bố bạn có quyền từ chối chuyển nhượng 1/2 tài sản là quyền sử dụng đất đó và phần di sản được hưởng từ mẹ chồng bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Đọc thêm: Phụ nữ ly hôn: Nếu thích đi một mình, hãy một mình

Tham khảo thêm: Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

quantri

quantri

Bài viết mới

Nhận tin mới nhất từ chúng tôi !